Quan điểm của chúng tôi:
Chúng tôi tiếp tục đánh giá cao năng lực triển khai các chiến lược tăng trưởng dài hạn của TCB, bao gồm đa dạng hóa danh mục tín dụng và mở rộng sang các mảng dịch vụ mới (ví dụ: bảo hiểm nhân thọ), được hỗ trợ bởi nền tảng công nghệ vượt trội của ngân hàng. Trong khi đó, tình trạng thanh khoản hệ thống còn đang thiếu hụt cùng với xung đột Iran đang tạo ra những thách thức nhất định đối với ngân hàng trong ngắn hạn, đặc biệt là áp lực tiêu cực lên đến chi phí huy động vốn (COF) và NIM. Tuy nhiên, với tệp khách hàng chất lượng, bộ đệm LLR lớn, cùng nguồn vốn vững mạnh, chúng tôi cho rằng TCB đang sở hữu một vị thế tốt để vượt qua các khó khăn chung của toàn ngành và đạt mức tăng trưởng lợi nhuận tốt trong năm 2026. TCB có thể sẽ sớm công bố kế hoạch chi trả cổ tức năm 2025 trước thềm ĐHCĐ vào thứ Bảy, ngày 25/04. Nhìn chung, chúng tôi tiếp tục cho rằng TCB hiện đang có mức định giá hết sức hấp dẫn.
Các nội dung chính:
1. Triển vọng vĩ mô
- TCB đã điều chỉnh giảm dự báo tăng trưởng GDP năm 2026 theo kịch bản cơ sở sau xung đột Iran xuống mức 7,0% (so với 8,0% trước xung đột), qua đó phản ánh các tác động tiêu cực từ việc giá dầu tăng cao, bao gồm: (i) xuất khẩu và hoạt động sản xuất suy yếu; (ii) tiêu dùng nội địa tăng chậm lại; và (iii) du lịch quốc tế kém tích cực hơn. Các động lực chính bao gồm:
+ Chính sách tài khóa được tăng cường, đóng vai trò là trụ cột tăng trưởng chính, với kế hoạch giải ngân đầu tư công năm 2026 tăng 42% YoY (1,12 triệu tỷ đồng).
+ Tiêu dùng nội địa được củng cố, nhờ các chính sách hỗ trợ của Chính phủ (Luật thuế thu nhập cá nhân sửa đổi, tăng lương tối thiểu vùng, gia hạn giảm 2% thuế GTGT, và mở rộng danh sách các quốc gia được miễn thị thực, cùng các yếu tố khác).
+ Dòng vốn FDI ổn định, được hỗ trợ bởi sự cải thiện của hạ tầng KCN, sự ổn định của vĩ mô - chính trị , và chính sách nhất quán ưu tiên đầu tư công nghệ cao.
+ Môi trường tiền tệ mang tính hỗ trợ, khi Chính phủ và hệ thống ngân hàng cùng nỗ lực giảm lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và hộ kinh doanh.
- Theo TCB, tăng trưởng GDP cả năm 2026 được kỳ vọng sẽ thay đổi tùy theo các kịch bản liên quan đến xung đột Iran; tuy nhiên, hiện chưa có dấu hiệu rủi ro hệ thống.
- Trong kịch bản cơ sở, TCB kỳ vọng tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống sẽ đạt 16%, lạm phát bình quân đạt 4,2%, và tỷ giá USD/VND sẽ tăng 2% trong năm 2026.
- Tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống trong quý 1/2026 đạt 3,18% tiếp tục cao hơn tăng trưởng tiền gửi (0,55%), qua đó tạo ra áp lực thanh khoản lên hệ thống. Theo ước tính của ngân hàng, mặt bằng lãi suất huy động đã tăng 100 điểm cơ bản trong quý 4/2025 và tăng thêm 140 điểm cơ bản trong quý 1/2026. Trong phần còn lại của năm, TCB hiện giả định lãi suất sẽ giảm nhẹ 30-40 điểm cơ bản.
2. Kế hoạch năm tài chính 2026
Chỉ tiêu | Triển vọng năm tài chính 2026 |
Tăng trưởng tín dụng | Kỳ vọng hạn mức tín dụng cao (nhờ kết quả kinh doanh và chất lượng tài sản), dù vẫn sẽ phải phụ thuộc vào phê duyệt của NHNN. |
Chi phí vốn | Áp lực từ cạnh tranh huy động gia tăng sẽ khó có thể được bù đắp hoàn toàn, dù áp lực này được kỳ vọng sẽ dịu bớt phần nào trong thời gian tới. |
Tỷ lệ CASA | Sản phẩm Sinh lời tự động 2.0 cùng năng lực phục vụ được mở rộng cho hộ kinh doanh và mảng ngân hàng giao dịch sẽ tạo nền tảng để ngân hàng tiếp tục ghi nhận sự cải thiện CASA trong năm 2026. |
NIM | Mục tiêu ổn định NIM thông qua kiểm soát chi phí vốn chặt chẽ, đồng thời mở rộng sang các nhóm tài sản có lợi suất cao hơn (mục tiêu NIM trong khoảng 3,6-3,7%). |
Tăng trưởng NII | Tăng trưởng thu nhập lãi thuần (NII) dự kiến ở mức cao hơn, được thúc đẩy bởi hoạt động bảo vệ NIM và tăng trưởng tín dụng tích cực. |
Tăng trưởng NFI | Tăng trưởng thu nhập phí dịch vụ (NFI) dự kiến ở mức cao hơn nhờ đẩy mạnh hoạt động bán chéo cũng như mở rộng hệ sinh thái trong lĩnh vực bảo hiểm và ngân hàng đầu tư. |
Tỷ lệ CIR | Tỷ lệ chi phí hoạt động trên tổng thu nhập (CIR) dự kiến duy trì trong khoảng 30-35% (kỳ vọng tương đương với mức của năm 2025). |
Tỷ lệ nợ xấu | Tỷ lệ nợ xấu được kiểm soát dưới mức 1,5%. |
Chi phí tín dụng (12 tháng gần nhất) | Chi phí tín dụng được duy trì dưới mức 1% (mục tiêu giữ ổn định chi phí tín dụng ở mức 0,6%). |
3. Quản lý tài sản
- Kết quả kinh doanh Quý 1/2026 yếu hơn so với quý trước với tổng thu nhập hoạt động (TOI) đạt 4.400 tỷ đồng (+19% YoY, -14% QoQ). Ngân hàng lý giải điều này là do biên lợi nhuận phân phối TPDN tạm thời bị thu hẹp khi lãi suất tiền gửi tăng cao. Tuy nhiên, doanh số bán hàng nhìn chung vẫn được duy trì ổn định.
- Số lượng khách hàng thu nhập cao (affluent) tiếp tục tăng trwongr trong quý và đạt 291.000 vào cuối Quý 1 (+4% QoQ, +61% YoY) với tổng tài sản quản lý (AUM) đạt 667.000 tỷ VNĐ (+4% QoQ, +74% YoY).
4. Tăng trưởng tín dụng
- Ở mảng bán lẻ, cho vay mua nhà tiếp tục duy trì đà tăng trưởng mạnh trong quý 1 (+6% QoQ so với +9% trong quý 4), với giá trị giải ngân cho vay mua nhà mới đạt 30,6 nghìn tỷ đồng trong quý (so với 40,8 nghìn tỷ đồng trong quý 4), trong khi giá trị trả nợ trước hạn vẫn ở mức tương đối khiêm tốn, đạt 13,3 nghìn tỷ đồng trong quý 1 (so với 16,4 nghìn tỷ đồng trong quý 4).
- Các sản phẩm cho vay bán lẻ khác cũng ghi nhận đà tăng trưởng tích cực trong quý 1, bao gồm cho vay tín chấp (+14% QoQ) và nhóm “Khác” (+12% QoQ, bao gồm cho vay tiêu dùng thế chấp bất động sản, cho vay mua ô tô và các khoản vay bán lẻ khác). Phân khúc doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME), hiện được báo cáo chung với mảng Bán lẻ, chiếm 5% tổng dư nợ Bán lẻ & SME và ghi nhận mức tăng trưởng 7% trong quý 1/2026.
- Xét theo tỷ trọng trong tổng dư nợ tín dụng, dư nợ với các doanh nghiệp BĐS tiếp tục ghi nhận xu hướng giảm (từ mức 30,7% trong quý 4/2025 xuống còn 28,9% trong quý 1/2026).
5. Cập nhật về hoạt động cho vay mua nhà
- Mặt bằng lãi suất cao hơn cho đến nay chưa ảnh hưởng đáng kể đến nhu cầu vay mua nhà của khách hàng trong quý 1/2026 và những tuần đầu tháng 4.
- Lãi suất cho vay mua nhà cố định hiện tại của TCB trong 12 tháng đầu tiên là 10,3%, so với 12,5% trong năm 2023 và khoảng 7,0% vào cuối năm 2025. Lãi suất cho vay mua nhà thả nổi hiện tại của ngân hàng trung bình ở mức 12%, so với mức đỉnh 13,3% trong năm 2023.
- 60% dư nợ cho vay mua nhà của TCB là cho vay mua nhà sơ cấp. Theo CFO của TCB, cho vay mua nhà sơ cấp có mức độ rủi ro thấp hơn một chút với tỷ lệ nợ xấu quanh mức 1,7%, so với 1,85% của toàn bộ danh mục cho vay mua nhà.
- Liên quan đến tỷ trọng người mua đầu tư so với người mua để ở thực khi vay mua nhà, ngân hàng cho rằng phần lớn người vay mua nhà là người mua để ở thực, và tỷ trọng này đang gia tăng.
6. NIM
- Theo TCB, mức giảm của NIM chủ yếu đến từ (i) áp lực COF do cạnh tranh huy động gay gắt và (ii) một số yếu tố tạm thời trong quý 1/2026 sẽ không lặp lại trong quý 2. Trong thời gian tới, ngân hàng kỳ vọng NIM sẽ phục hồi đáng kể, đặc biệt trong nửa cuối năm 2026, và đạt 3,6-3,7% cho cả năm.
- Ngân hàng kỳ vọng áp lực COF sẽ dịu bớt phần nào trong các quý tới nhờ những nỗ lực đồng bộ do NHNN khởi xướng nhằm giảm lãi suất huy động, cùng với các nỗ lực của riêng TCB trong việc tăng CASA, đặc biệt ở phân khúc khách hàng thu nhập khá (mass affluent) và hộ kinh doanh.
7. Chất lượng tài sản
- Chất lượng tài sản tiếp tục duy trì tốt. Tỷ lệ nợ xấu mảng bán lẻ ở mức 2,15% (+2 điểm cơ bản QoQ, -42 điểm cơ bản YoY), trong đó tỷ lệ nợ xấu cho vay mua nhà ở mức 1,85% (+1 điểm cơ bản QoQ, -44 điểm cơ bản YoY). Tỷ lệ nợ xấu mảng doanh nghiệp ở mức 0,29% (-1 điểm cơ bản QoQ, +4 điểm cơ bản YoY).
- Tỷ trọng các khoản vay có tài sản bảo đảm trên tổng dư nợ tăng lên 90,4% (so với 84,7% trong quý 4).
- TCB kỳ vọng sẽ không có tác động trực tiếp đáng kể nào từ các bất ổn địa chính trị tại Trung Đông lên tập khách hàng của ngân hàng. Tỷ trọng dư nợ tín dụng của TCB trong lĩnh vực dầu khí, logistics, hoặc các lĩnh vực liên quan trực tiếp đến dầu khí là rất nhỏ, ở mức 0,6%. Ngân hàng vẫn theo dõi sát sao các khách hàng hoạt động trong những ngành có khả năng chịu nhiều ảnh hưởng từ xung đột Iran. Tuy nhiên, ở thời điểm hiện tại, TCB chưa ghi nhận bất kỳ tình huống xấu đáng kể nào cần hành động, và ngân hàng chỉ đang siết nhẹ các chính sách thẩm định tín dụng.
8. TCX
- Giá trị tư vấn phát hành trái phiếu doanh nghiệp trong quý 1/2026 đạt 28 nghìn tỷ đồng (+305% YoY), với thị phần 86%.
- Giá trị phân phối trái phiếu doanh nghiệp trong quý 1/2026 đạt 22 nghìn tỷ đồng (+6% YoY), trong đó 19 nghìn tỷ đồng qua iBond và 3 nghìn tỷ đồng qua iConnect. Do lãi suất tiền gửi tăng cao, TCX phải giảm biên lợi nhuận trong hoạt động phân phối trái phiếu.
- Giá trị phân phối quỹ và sản phẩm cấu trúc trong quý 1/2026 đạt 3,6 nghìn tỷ đồng (-41% YoY).
- Thị phần HOSE của TCX đạt 8,9% trong quý 1/2026 (top 3).
- Dư nợ cho vay ký quỹ tiếp tục giữ vị trí #1 với 11% thị phần. Ngân hàng đặt mục tiêu đạt 20% thị phần trong tương lai với các định hướng chiến lược sau: (i) duy trì lãi suất cho vay ký quỹ cạnh tranh, (ii) cung cấp thêm các dịch vụ bổ sung và khác biệt cho khách hàng, và (iii) giảm COF bằng cách đa dạng hóa sang các nguồn vốn ổn định hơn như vay nước ngoài.
- TCX vẫn ghi nhận nhu cầu phát hành trái phiếu doanh nghiệp mạnh mẽ từ danh mục hiện tại. Công ty kỳ vọng hoạt động phát hành sẽ tích cực hơn trong quý 2-quý 3. Quý 1 thường là mùa thấp điểm do phần lớn doanh nghiệp cần chờ hoàn tất BCTC kiểm toán và báo cáo thường niên trong quý 1 để có thể phát hành thêm trái phiếu.
- TCX hiện kỳ vọng sẽ nhận được giấy phép sàn giao dịch crypto trong quý 3/2026. Công ty đang trong quá trình phát triển nền tảng, hệ thống back-end và toàn bộ các quy trình liên quan để có thể sẵn sàng triển khai nhanh ngay sau khi được cấp phép.
- Đối với mảng môi giới cổ phiếu, TCX hiện đang nỗ lực mở rộng sang phân khúc khách hàng tổ chức bằng cách phát triển các tính năng/dịch vụ khác biệt. Ví dụ, công ty đã ra mắt tính năng giao dịch ẩn lệnh (Dark Pool) và tính năng ký quỹ trước với hạn mức cao.
Powered by Froala Editor