- Chúng tôi đã tham dự ĐHCĐ của CTCP Nhiệt điện Quảng Ninh (QTP) vào ngày 22/04/2026. Nhìn chung, ban lãnh đạo nhấn mạnh áp lực lợi nhuận năm 2026 xuất phát từ kế hoạch dừng máy để thực hiện dự án nâng cấp hệ thống xử lý khí thải, đồng thời khẳng định sự cần thiết của dự án nhằm đảm bảo hoạt động dài hạn theo các tiêu chuẩn môi trường nghiêm ngặt hơn.
- Cổ đông đã thông qua kế hoạch LNST năm 2026 đạt 321 tỷ đồng (−69% YoY; −30% so với kế hoạch 2025; 46% dự báo năm 2026 của chúng tôi). Kế hoạch thấp này chủ yếu phản ánh kế hoạch dừng hoạt động cả bốn tổ máy trong tháng 11–12/2026 để thực hiện dự án nâng cấp xủ lý khí thải. Trong giai đoạn 2021–2024, LNST sau lợi ích CĐTS thực tế của QTP đã vượt kế hoạch trung bình 47%. Do đó, chúng tôi nhận thấy rủi ro điều chỉnh giảm đối với dự báo của chúng tôi cho QTP.
- Cổ đông đã thông qua cổ tức tiền mặt năm 2025 là 1.000 đồng/cổ phiếu (đã chi trả vào tháng 01/2026) và cũng thông qua cổ tức tiền mặt năm 2026 là 700 đồng/cổ phiếu (thấp hơn dự báo 1.200 đồng/cổ phiếu của chúng tôi). Trong giai đoạn 2021–2025, cổ tức tiền mặt thực tế đã chi trả của QTP cao hơn kế hoạch trung bình 40%. Do đó, chúng tôi nhận thấy rủi ro điều chỉnh giảm đối với dự báo cổ tức tiền mặt của chúng tôi.
- Quan điểm của chúng tôi: Mặc dù chúng tôi kỳ vọng kết quả quý 2/2026 khả quan nhờ sản lượng huy động cao hơn (tỷ lệ Qc khoảng 80%) và chênh lệch giá cải thiện trong bối cảnh giá CGM cao hơn và chi phí than tương đối ổn định, chúng tôi nhận thấy rủi ro giảm đối với lợi nhuận cả năm do sản lượng có khả năng sụt giảm trong quý 4/2026 từ kế hoạch dừng máy để nâng cấp khí thải.
Các kịch bản vận hành năm 2026. QTP đã xây dựng ba kịch bản vận hành cho năm 2026 dựa trên tiến độ thực hiện dự án nâng cấp khí thải và các yêu cầu về an ninh năng lượng toàn hệ thống. Công ty hiện đang ưu tiên Kịch bản 1, giả định dừng hoàn toàn bốn tổ máy trong tháng 11–12/2026 để đảm bảo hoàn thành dự án trước ngày 31/12/2026 nhằm tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường. Tuy nhiên, thời gian dừng máy thực tế vẫn phụ thuộc vào quyết định huy động của Công ty TNHH MTV Vận hành hệ thống điện và thị trường điện Quốc gia (NSMO) để duy trì sự ổn định lưới điện. Trong trường hợp thiếu hụt thủy điện hoặc nhu cầu cao hơn dự kiến, NSMO có thể không phê duyệt kế hoạch dừng máy này, có khả năng chuyển việc vận hành sang Kịch bản 2 hoặc Kịch bản 3. Các giả định và kết quả chính của ba kịch bản được trình bày dưới đây.
Ba kịch bản của QTP năm 2026
2026 | Kịch bản 1 (ĐHCĐ thông qua) | Kịch bản 2 | Kịch bản 3 |
Trạng thái | Dừng 4 tổ máy trong 2 tháng (tháng 11-12/2026) | Dừng 2 tổ máy năm 2026; 2 tổ máy năm 2027 | Không dừng máy năm 2026, chuyển sang năm 2027 |
Sản lượng (tỷ kWh) | 6,59 (-5% YoY; 85% dự báo 2026 của chúng tôi) | 7,29 (+6% YoY; 94% dự báo 2026 của chúng tôi) | 7,67 (+11% YoY; 99% dự báo 2026 của chúng tôi) |
Doanh thu (tỷ đồng) | 9.576 (-11% YoY; 82% dự báo 2026 của chúng tôi) | 10.540 (-2% YoY; 90% dự báo 2026 của chúng tôi) | 11.075 (+3% YoY; 95% dự báo 2026 của chúng tôi) |
LNST (tỷ đồng) | 321 (-69% YoY; 46% dự báo 2026 của chúng tôi) | 422 (-59% YoY; 61% dự báo 2026 của chúng tôi) | 480 (-54% YoY; 69% dự báo 2026 của chúng tôi) |
Cổ tức tiền mặt (đồng/cổ phiếu) | 700 | 900 | 1.000 |
Nguồn: QTP, Vietcap
Dự án Cải tạo và Nâng cấp Hệ thống xử lý khí thải:
- Mục tiêu dự án: Dự án nhằm đáp ứng tiêu chuẩn khí thải QCVN 19:2024 của Việt Nam (SO2, NOx, bụi), một yêu cầu bắt buộc để tiếp tục vận hành các tổ máy nhiệt điện Quảng Ninh.
- Chi phí đầu tư XDCB: Cổ đông đã thông qua mức vốn đầu tư XDCB 3,7 nghìn tỷ đồng (cao hơn mức 3,2 nghìn tỷ đồng đã đề xuất tại ĐHCĐ năm 2025). Chi phí đầu tư cao hơn chủ yếu do sự mất giá của đồng VND (vì hầu hết thiết bị được nhập khẩu) và các tiêu chuẩn quy định nghiêm ngặt hơn đòi hỏi các thông số kỹ thuật tiên tiến hơn.
- Tiến độ: EVN yêu cầu dự án phải hoàn thành trước năm 2026, với hợp đồng EPC dự kiến được ký kết trước tháng 06/2026. Theo đó, tiến độ dự án dự kiến kéo dài từ năm 2026–2027, với ba kịch bản thực hiện: (1) dừng cả bốn tổ máy trong tháng 11–12/2026; (2) dừng hai tổ máy trong tháng 11–12/2026 và hai tổ máy còn lại trong tháng 11–12/2027; hoặc (3) dừng cả bốn tổ máy trong năm 2027. Nhìn chung, dự án dự kiến sẽ hoàn thành trong giai đoạn 2026–2027, nhanh hơn so với tiến độ 2027–2031 đã đề xuất tại ĐHCĐ 2025.
- Thu hồi chi phí theo Hợp đồng mua bán điện (PPA): Ban lãnh đạo cho biết chi phí đầu tư dự án sẽ được đàm phán thu hồi thông qua PPA với EVN. Các điều khoản cụ thể vẫn chưa được hoàn tất. Ban lãnh đạo không đưa ra kế hoạch về tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR) dự kiến; chúng tôi giả định rằng QTP có thể đặt mục tiêu IRR khoảng 12%, phù hợp với các đơn vị cùng ngành như Nhiệt điện Phả Lại.
Ban lãnh đạo cho biết căng thẳng địa chính trị có tác động không đáng kể đến nguồn cung than của QTP, do công ty chủ yếu lấy nguồn từ các nhà cung cấp trong nước là Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) và Tổng công ty Đông Bắc, hoạt động theo cơ chế giá do nhà nước quy định. Ngoài ra, mặc dù giá dầu đã tăng mạnh do diễn biến tại Trung Đông, dầu chỉ chiếm khoảng 2,8% tổng chi phí vận hành, cho thấy mức độ rủi ro hạn chế. Quan trọng hơn, biến động giá than và dầu được đưa vào thành phần biến phí trong cơ chế PPA, cho phép chuyển đổi chi phí và giảm thiểu rủi ro trực tiếp đối với lợi nhuận.
Powered by Froala Editor