Quan điểm của chúng tôi: Chúng tôi nhận thấy khả năng điều chỉnh tăng đối với dự báo hiện tại. Bên cạnh việc LNST sau lợi ích CĐTS báo cáo và LNST sau lợi ích CĐTS cốt lõi năm 2025 lần lượt hoàn thành 116% và 103% dự báo cả năm của chúng tôi, hiện chúng tôi nhận thấy thêm tiềm năng điều chỉnh tăng dự báo lợi nhuận từ kế hoạch mở rộng đội giàn khoan tích cực hơn và sớm hơn dự kiến. Ban lãnh đạo đặt mục tiêu mua 2–3 giàn khoan tự nâng trong giai đoạn 2026–2030 so với giả định hiện tại của chúng tôi là mua một giàn vào cuối năm 2026. Tiềm năng tăng trưởng từ tốc độ mở rộng giàn khoan nhanh hơn này sẽ bù đắp cho triển vọng giá thuê ngày yếu hơn một chút so với kỳ vọng, trong đó ban lãnh đạo đặt mục tiêu giá thuê ngày trung bình của giàn tự nâng năm 2026 là 90.500 USD/ngày (+1% YoY; khoảng 97% dự báo năm 2026 của chúng tôi).
Nhu cầu giàn khoan tự nâng toàn cầu dự kiến tăng, dẫn dắt bởi nhu cầu từ Trung Đông và Đông Nam Á. Nhu cầu giàn tự nâng tại Đông Nam Á dự kiến sẽ tăng 1,6% trong năm 2026 và 1,3% trong năm 2027, được hỗ trợ bởi hoạt động thăm dò & khai thác (E&P) duy trì đà tăng tại Việt Nam, Malaysia và Indonesia. Nhu cầu tại Trung Đông được dự báo sẽ tăng mạnh hơn, ở mức 2,4% vào năm 2026 và 7,4% vào năm 2027, chủ yếu do Saudi Aramco tái khởi động chiến dịch khoan của các giàn khoan đã tạm dừng trước đó và OPEC+ dần tăng sản lượng. Những yếu tố này hỗ trợ hiệu suất sử dụng giàn tự nâng toàn cầu và giá thuê ngày trong trung hạn.
Triển vọng giá thuê ngày:
- Triển vọng toàn cầu: Ban lãnh đạo kỳ vọng giá thuê ngày giàn tự nâng toàn cầu sẽ đi ngang so với cùng kỳ trong năm 2026, trong bối cảnh giá dầu thấp hơn so với cùng kỳ, trước khi phục hồi vào năm 2027 khi nhu cầu cao hơn từ Trung Đông được hấp thụ và tình trạng thắt chặt nguồn cung trở nên rõ ràng hơn. Ban lãnh đạo kỳ vọng giá thuê ngày năm 2028 sẽ cao hơn năm 2026 từ 5-10%.
- Kế hoạch của PVD: PVD đưa ra mục tiêu giá thuê ngày trung bình giàn tự nâng năm 2026 sẽ vào khoảng 90.500 USD/ngày (+1% YoY; 97% dự báo năm 2026 của chúng tôi).
Chiến lược đầu tư giàn khoan. PVD duy trì ý định mở rộng đội giàn tự nâng để đáp ứng mục tiêu tăng trưởng doanh thu 15%/năm đến năm 2030 do PetroVietnam giao và kỳ vọng nhu cầu khoan tích cực ít nhất đến năm 2030. Công ty đang tìm kiếm cơ hội mua 2–3 giàn tự nâng đã qua sử dụng trong giai đoạn 2026–2030. Ban lãnh đạo kỳ vọng mỗi khoản đầu tư sẽ mang lại thời gian hoàn vốn khoảng 5 năm và tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR) là 12%.
Triển vọng mảng dịch vụ kỹ thuật giếng khoan. Ban lãnh đạo kỳ vọng mảng dịch vụ kỹ thuật giếng khoan của PVD sẽ tiếp tục mang lại mức tăng trưởng ổn định, được hỗ trợ bởi hoạt động E&P gia tăng tại Việt Nam.
Lợi nhuận từ các liên doanh còn nhiều dư địa tăng trưởng. Ban lãnh đạo kỳ vọng đóng góp lợi nhuận từ các liên doanh sẽ tiếp tục tăng, nhờ mức độ hoạt động cao hơn ở cả thị trường trong nước và khu vực. Mặc dù ban lãnh đạo cho biết một số công ty con dịch vụ giếng khoan đang hoạt động gần mức đỉnh lợi nhuận năm 2014, công ty cũng lưu ý rằng liên doanh Baker Hughes vẫn đang ghi nhận lợi nhuận thấp hơn khoảng 33% so với mức đỉnh năm 2014. Chúng tôi cũng quan sát thấy lợi nhuận từ liên doanh đạt đỉnh 14 triệu USD vào năm 2014, cao gấp 2,5 lần so với mức 5,5 triệu USD năm 2025, cho thấy dư địa tăng trưởng đáng kể. Ngoài ra, PVD đang tích cực mở rộng ra nước ngoài thông qua các liên doanh tại Indonesia và Malaysia, nhằm thâm nhập sâu hơn vào thị trường và cải thiện chất lượng biên lợi nhuận.
Chính sách cổ tức. PVD không có kế hoạch trả cổ tức tiền mặt trong năm 2026, ưu tiên tiền mặt cho hoạt động đầu tư. Công ty có thể xem xét phát hành cổ phiếu thưởng từ Quỹ Đầu tư Phát triển để tăng vốn điều lệ. Theo báo cáo tài chính công ty mẹ quý 4/2025 của PVD, Quỹ Đầu tư Phát triển ở mức 166 triệu USD, có thể giúp tăng vốn điều lệ thêm tới 61% trong dài hạn.
Triển vọng khung pháp lý tích cực. Nhận định về cơ chế đặc thù của PetroVietnam và Luật Dầu khí mới. Ở cấp độ ngành, PVD kỳ vọng những thay đổi chính sách này sẽ có tác động tích cực đến ngành dầu khí Việt Nam, do khung phê duyệt tinh gọn hơn sẽ thúc đẩy hoạt động thượng nguồn. Theo đó, PVD sẽ hưởng lợi trực tiếp từ việc đẩy mạnh hoạt động E&P. Ở cấp độ công ty, ban lãnh đạo kỳ vọng khung pháp lý mới sẽ rút ngắn thời gian phê duyệt đầu tư từ 6–9 tháng xuống còn 2–3 tháng, nâng cao hiệu quả thực thi và cho phép người đại diện vốn nhà nước linh hoạt hơn trong điều hành.
Triển vọng nhu cầu trong nước mạnh mẽ. Dự án Lạc Đà Vàng và Lô B sẽ là nền tảng cho khối lượng công việc khoan và dịch vụ tại Việt Nam. Ban lãnh đạo nhấn mạnh Lạc Đà Vàng là một phát hiện quy mô lớn. Theo PVD, Murphy Oil dự kiến sẽ mở thầu vào quý 2/2026, với chiến dịch khoan có khả năng bắt đầu vào cuối năm 2027 hoặc đầu năm 2028. Đối với Lô B – Ô Môn, PVD kỳ vọng dự án sẽ chuyển thành một chiến dịch khoan dài hạn, tạo ra khối lượng công việc lớn và thường xuyên cho cả mảng khoan và dịch vụ kỹ thuật giếng khoan, củng cố triển vọng lợi nhuận từ năm 2027 trở đi.
Động lực nguồn cung từ Mỹ có thể hỗ trợ chi tiêu E&P toàn cầu. PVD nhấn mạnh rằng động thái của Mỹ nhằm tăng sản lượng dầu thông qua Venezuela, bao gồm việc tạo điều kiện cho doanh số bán dầu khoảng 2 tỷ USD và khuyến khích các công ty dầu khí Mỹ tái đầu tư khoảng 100 tỷ USD (21% dự báo vốn đầu tư E&P toàn cầu năm 2026 của chúng tôi) vào lĩnh vực thượng nguồn của Venezuela để tái thiết, sẽ hỗ trợ cho chi tiêu E&P toàn cầu thay vì gây gián đoạn. Mặc dù nguồn cung gia tăng có thể gây thêm biến động cho giá dầu, PVD xem diễn biến này là tích cực ròng đối với nhu cầu khoan, do năng lực sản xuất cao hơn cũng sẽ đòi hỏi gia tăng các hoạt động khoan và dịch vụ giếng khoan.
Powered by Froala Editor