toggle icon
logo text
logo symbol
toggle icon
Quay lại

PVD - LNST sau lợi ích CĐTS báo cáo 9T 2026 giảm 21% YoY do biên lợi nhuận gộp mảng khoan giảm và chi phí lãi vay tăng; KQKD thấp hơn dự báo - Báo cáo KQKD & Gặp gỡ NĐT

Doanh Nghiệp •

30/10/2026

  • Chúng tôi nhận thấy rủi ro điều chỉnh giảm đối với dự báo năm 2026 của chúng tôi, dù vẫn cần thêm đánh giá chi tiết. Doanh thu, LNST sau lợi ích CĐTS báo cáo và cốt lõi 9 tháng đầu năm 2026 (9T 2026) lần lượt hoàn thành 69%, 51% và 58% dự báo năm 2026 tương ứng của chúng tôi. Nguyên nhân chủ yếu khiến KQKD thấp hơn kỳ vọng là do (1) biên lợi nhuận gộp mảng khoan thấp hơn dự kiến, do chi phí phát sinh vượt dự toán tại các dự án, và công ty phải ghi nhận những ngày giàn PVD VI ngừng hoạt động mà không có doanh thu chờ việc; đồng thời (2) lợi nhuận gộp từ các dịch vụ liên quan đến giếng khoan cũng ghi nhận ở mức thấp hơn dự kiến. Những yếu tố bất lợi này đã lấn át tác động tích cực từ (3) mức lợi nhuận cao hơn kỳ vọng từ các công ty liên kết. PVD kỳ vọng lợi nhuận sẽ trở lại mức bình thường từ quý 4/2026, sau khi hoàn tất dự án Sông Đốc vào tháng 9/2026.
  • Lợi nhuận gộp mảng khoan giảm 1% YoY trong 9T 2026 và 51% YoY trong quý 3/2026, dù doanh thu tăng trưởng mạnh. 
    • Trong 9T 2026, tăng trưởng doanh thu được thúc đẩy bởi đóng góp mới từ PVD VIII và PVD IX, cùng với sự gia tăng của số lượng giàn khoan thuê ngoài (bình quân 3,3 giàn trong 9T 2026 so với 1,1 giàn trong 9T 2025). Trong khi đó, biên lợi nhuận gộp đã ghi nhận mức giảm 8,0 điểm % YoY, chủ yếu do (1) chi phí nâng cấp giàn PVD VIII và PVD IX không được vốn hóa: các khoản nâng cấp theo yêu cầu của khách hàng để phục vụ hoạt động phải được ghi nhận trực tiếp vào chi phí thay vì vốn hóa theo Thông tư 99/2025/TT-BTC; (2) tiến độ thực hiện dự án Sông Đốc kéo dài hơn so với kế hoạch ban đầu, trong khi phần lớn doanh thu đã được ghi nhận trong năm 2025, khiến chi phí vượt dự toán; và (3) thời gian hoạt động của PVD VI giảm sau khi hoàn thành chiến dịch khoan sớm hơn kế hoạch của khách hàng trong quý 3.
    • Trong quý 3/2026, lợi nhuận gộp mảng khoan đã giảm 51% YoY dù doanh thu tăng 34% YoY, với biên lợi nhuận gộp đạt 8,8% (-15,3 điểm % YoY). PVD cho rằng nguyên nhân khiến biên lợi nhuận sụt giảm là do (1) thời gian hoạt động của PVD IX giảm do bảo dưỡng theo kế hoạch (hiệu suất hoạt động đạt 92,4%) và PVD VI hoàn thành công việc sớm hơn kế hoạch của khách hàng (hiệu suất hoạt động đạt 67,5%), từ đó dẫn đến những ngày ngừng hoạt động không có doanh thu chờ việc; và (2) áp lực chi phí tại PVD IX liên quan đến dự án Sông Đốc.
  • Chi phí lãi vay tăng mạnh 75% YoY trong 9T 2026 và 76% YoY trong quý 3/2026, qua đó phản ánh việc dư nợ vay tăng để mở rộng đội giàn khoan và tác động của Thông tư 99/2025/TT-BTC. Theo đó, chi phí đi vay liên quan đến các tài sản có thời gian xây dựng dưới một năm không còn được vốn hóa mà phải được ghi nhận trực tiếp vào báo cáo KQKD.
  • Trong 9T 2026, PVD đã ghi nhận doanh thu đạt 368,5 triệu USD (+45% YoY) và LNST sau lợi ích CĐTS báo cáo đạt 20,6 triệu USD (-21% YoY). Chúng tôi ước tính LNST sau lợi ích CĐTS cốt lõi đã tăng 2% YoY lên mức 25,2 triệu USD. Mức tăng nhẹ của lợi nhuận cốt lõi chủ yếu được thúc đẩy bởi (1) lợi nhuận gộp từ các dịch vụ liên quan đến giếng khoan tăng mạnh 21% YoY và (2) lợi nhuận từ công ty liên kết tăng 84% YoY; qua đó phản ánh sự khởi sắc của hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí (E&P) tại Việt Nam. Những yếu tố tích cực này đã bù đắp cho tác động từ (3) mức giảm 1% YoY của lợi nhuận gộp mảng khoan; (4) mức tăng 26% YoY của chi phí quản lý doanh nghiệp; và (5) mức tăng 75% YoY của chi phí lãi vay. LNST sau lợi ích CĐTS báo cáo diễn biến kém hơn lợi nhuận cốt lõi, chủ yếu do (1) lỗ tỷ giá thuần tăng lên mức 3,3 triệu USD (so với 2,0 triệu USD trong 9T 2025), khi lãi tỷ giá giảm 55% YoY do USD mất giá so với VND, qua đó làm giảm lợi ích tỷ giá từ doanh thu bằng USD của PVD. Trong khi đó, PVD hưởng lợi từ việc lỗ tỷ giá chưa thực hiện đối với các khoản vay bằng đồng giảm 9% YoY, xuống còn 4,6 triệu USD, nhưng mức cải thiện này vẫn chưa đủ để bù đắp cho phần sụt giảm của lãi tỷ giá; đồng thời (2) công ty hiện không còn ghi nhận các khoản lợi nhuận bất thường trong 6T 2025, gồm bồi thường bảo hiểm cho thời gian PVD VI ngừng hoạt động và lãi thuần từ thanh lý tài sản.
  • Trong quý 3/2026, PVD đã ghi nhận doanh thu đạt 122,7 triệu USD (+23% YoY), nhưng LNST sau lợi ích CĐTS báo cáo đã giảm 75% YoY xuống mức 2,7 triệu USD. Chúng tôi ước tính LNST sau lợi ích CĐTS cốt lõi đã giảm 65% YoY xuống 4,2 triệu USD. Nguyên nhân lợi nhuận giảm là do (1) lợi nhuận gộp mảng khoan giảm 51% YoY; (2) lợi nhuận gộp từ các dịch vụ liên quan đến giếng khoan giảm 8% YoY; (3) chi phí lãi vay tăng 76% YoY do các khoản vay đầu tư cho giàn PVD VIII và PVD IX; và (4) chi phí quản lý doanh nghiệp tăng 17% YoY. Những yếu tố bất lợi này đã lấn át (5) mức tăng 80% YoY của lợi nhuận từ công ty liên kết.

Chúng tôi cũng tham dự cuộc họp gặp gỡ NĐT của PVD vào ngày 29/10. Nhìn chung, PVD cho biết phần lớn các yếu tố bất lợi mang tính một lần đã được ghi nhận trong quý 3/2026 và kỳ vọng lợi nhuận sẽ phục hồi từ quý 4/2026. Trong cuộc họp, chúng tôi đã ghi nhận được các nội dung chính như sau:

  • Giá thuê ngày trung bình của giàn tự nâng tại Đông Nam Á đạt 94.200 USD/ngày trong quý 3/2026 (-14% YoY; -1% QoQ) và 97.250 USD/ngày trong 9T 2026 (-3% YoY). Chúng tôi cho rằng nguyên nhân của mức giảm YoY này chủ yếu đến từ việc tình trạng dư cung giàn khoan tại Trung Đông khiến một phần công suất dịch chuyển sang Đông Nam Á trong bối cảnh các hoạt động khoan bị trì hoãn. Tuy nhiên, giá thuê ngày đã xuất hiện những dấu hiệu ổn định ban đầu, với mức giá trung bình tháng 9 đạt 95.500 USD/ngày (+5% so với mức đáy tháng 4/2026).
  • PVD kỳ vọng giá thuê ngày của các giàn tự nâng sẽ tiếp tục đi ngang đến hết năm 2027 (thấp hơn giả định của chúng tôi). PVD cho biết giá thuê ngày trung bình của đội giàn khoan có thể đạt khoảng 88.000–90.000 USD/ngày trong giai đoạn 2026–2027, tương đương 98%/95% dự báo giá thuê ngày bình quân gia quyền của giàn tự nâng năm 2026/2027 của chúng tôi. Chúng tôi dự báo giá thuê ngày giàn tự nâng của PVD sẽ đạt 90.754 USD/ngày trong năm 2026 (+1,2% YoY) và 93.441 USD/ngày trong năm 2027 (+3,0% YoY). PVD kỳ vọng giá thuê ngày sẽ đi ngang trong năm 2027 do các hợp đồng đã được chốt, trước khi tăng trở lại từ năm 2028.
  • PVD kỳ vọng giá thuê ngày trong khu vực sẽ duy trì ổn định ngay cả khi giá dầu giảm trong năm 2027 và cho rằng giá dầu thấp hơn có thể mang lại lợi ích ròng cho ngành. Thứ nhất, PVD cho biết giá thuê ngày chủ yếu phụ thuộc vào cung cầu trong khu vực và nhìn chung ít chịu ảnh hưởng từ giá dầu, trừ khi giá dầu giảm xuống mức 40 USD/thùng. Nếu xung đột kết thúc, hoạt động tái thiết tại Trung Đông có thể thu hút giàn khoan quay lại khu vực, thúc đẩy nhu cầu giàn khoan toàn cầu và hỗ trợ giá thuê ngày của giàn tự nâng. Thứ hai, việc kết thúc xung đột có thể giúp giá dầu hạ nhiệt, qua đó mang lại lợi ích cho PVD nhờ chi phí vận hành thấp hơn.
  • PVD V (giàn khoan tiếp trợ nửa nổi nửa chìm – TAD) có thể đạt mức tăng 10% của giá thuê ngày theo hợp đồng mới, nhưng mức giá tương ứng vẫn thấp hơn giả định của chúng tôi. PVD cho biết hợp đồng của giàn PVD V có thời hạn cố định sáu năm (từ tháng 1/2022 đến tháng 1/2028), kèm quyền gia hạn thêm bốn năm. Nhờ hiệu quả vận hành tốt của giàn và nhu cầu thị trường thuận lợi, PVD kỳ vọng giá thuê ngày sẽ được tăng thên 10% khi gia hạn hợp đồng vào tháng 2/2028, tương ứng 99.000 USD/ngày (bằng 71% dự báo của chúng tôi). Do đó, chúng tôi nhận thấy rủi ro điều chỉnh giảm đối với dự báo lợi nhuận từ năm 2028.
  • Sau PVD X, PVD có kế hoạch bổ sung thêm hai giàn tự nâng (một giàn trong năm 2027 và một giàn trong giai đoạn 2028–2029), qua đó nâng tổng số giàn khoan lên 10 giàn (chín giàn tự nâng và một giàn TAD) vào năm 2030 (nhìn chung không thay đổi so với kế hoạch trước đây). Mỗi giàn dự kiến cần khoảng 80 triệu USD vốn đầu tư XDCB, với thời gian hoàn vốn 6–7 năm dựa trên giả định giá thuê ngày ở mức 90.000 USD. Mô hình dự báo của chúng tôi hiện giả định PVD sẽ bổ sung một giàn khoan (PVD XII) thông qua liên doanh do PVD sở hữu 51% vốn vào đầu năm 2027, với giá trị đầu tư 83 triệu USD. Kế hoạch bổ sung giàn khoan trong năm 2027 phù hợp với giả định của chúng tôi về thời điểm đầu tư, trong khi việc bổ sung thêm một giàn trong giai đoạn 2028–2029 sẽ tạo dư địa tăng so với giả định về quy mô đội giàn khoan hiện tại. 
  • Số lượng giếng khoan tại Việt Nam dự kiến sẽ tăng, trong khi khối lượng công việc của các giàn khoan thuê ngoài có thể mang lại dư địa tăng trưởng cho doanh thu. PVD kỳ vọng mỗi năm sẽ có 100–120 giếng được khoan tại Việt Nam trong giai đoạn 2027–2030, chưa bao gồm Lô B (so với mức 60–70 giếng trong đánh giá tại cuộc họp gặp gỡ NĐT năm 2025). Số lượng giếng khoan dự kiến đạt 100–120 giếng/năm trong giai đoạn 2027–2030, tương đương 2,0–2,4 lần mức trung bình 49 giếng/năm trong giai đoạn 2021–2025, qua đó cho thấy triển vọng tăng trưởng mạnh của hoạt động E&P. Chúng tôi hiện dự báo vốn đầu tư XDCB cho hoạt động E&P tại Việt Nam sẽ đạt trung bình 2,1 tỷ USD/năm trong giai đoạn 2026–2030 (gấp 2,6 lần mức trung bình giai đoạn 2021–2025). Điều này sẽ tạo động lực tăng trưởng mạnh cho các mảng dịch vụ kỹ thuật giếng khoan. Sự gia tăng của hoạt động E&P cũng sẽ hỗ trợ mảng giàn khoan thuê ngoài của PVD. Công ty kỳ vọng có ít nhất 3 giàn khoan thuê ngoài sẽ hoạt động tại Việt Nam trong suốt năm 2027 (cao hơn đáng kể so với dự báo 0,4 giàn của chúng tôi).

Hình 1: KQKD quý 3 và 9T 2026 của PVD

Triệu USD

Q3 2025

Q3 2026

YoY

9T 2025

9T 2026

YoY

% dự báo
 2026 

Giá dầu Brent (USD/thùng)

68

91

33%

70

89

27%

107%

Giá thuê ngày của giàn khoan tự nâng (USD/ngày) (*)

90.000

91.496

2%

89.992

91.496

2%

101%

Hiệu suất hoạt động của giàn khoan tự nâng % (*)

87%

90%

2,6 điểm %

85%

91%

6,5 điểm %

99%

Doanh thu

100,0

122,7

23%

254,9

368,5

45%

69%

Giá vốn hàng bán

-76,3

-107,1

40%

-200,2

-307,6

54%

71%

Lợi nhuận gộp

23,7

15,7

-34%

54,7

60,9

11%

62%

Chi phí bán hàng và tiếp thị

-0,4

-0,3

-19%

-0,8

-0,7

-12%

39%

Chi phí quản lý doanh nghiệp

-7,7

-9,0

17%

-20,0

-25,3

26%

74%

Lợi nhuận từ HĐKD (EBIT)

15,6

6,3

-59%

33,9

34,9

3%

56%

Thu nhập tài chính

1,6

1,7

9%

4,9

5,1

3%

79%

Chi phí tài chính

-3,8

-5,1

34%

-10,8

-14,6

35%

70%

   Trong đó: chi phí lãi vay

-1,8

-3,2

76%

-5,7

-9,9

75%

71%

Lợi nhuận từ công ty liên kết

1,4

2,4

80%

3,2

5,8

84%

86%

Thu nhập/lỗ khác thuần

-0,5

0,8

N.M.

3,4

0,2

-94%

N.M.

Lợi nhuận trước thuế (LNTT)

14,3

6,2

-56%

34,5

31,3

-9%

58%

Chi phí thuế TNDN

-3,5

-3,1

-11%

-8,4

-9,9

19%

76%

LNST

10,8

3,1

-71%

26,2

21,4

-18%

52%

Lợi ích CĐTS

0,0

-0,4

N.M.

0,0

-0,8

N.M.

99%

LNST sau lợi ích CĐTS báo cáo

10,8

2,7

-75%

26,2

20,6

-21%

51%

LNST sau lợi ích CĐTS cốt lõi (**)

12,1

4,2

-65%

24,7

25,2

2%

58%

EBITDA

24,9

16,8

-33%

58,6

67,7

16%

65%

Nguồn: PVD, Vietcap. Lưu ý: (*) Ước tính của Vietcap; (**) LNST sau lợi ích CĐTS cốt lõi không bao gồm tác động của dự phòng nợ phải thu khó đòi của PVEP, hoàn nhập thuế nhà thầu (phát sinh khi giàn khoan tự nâng hoạt động tại Malaysia), hoàn nhập quỹ khoa học, lỗ tỷ giá và lợi nhuận bất thường.

Powered by Froala Editor

Tư vấn nhanh và chính xác nhất, gọi ngay: (+84) 2 8888 2 6868

/en/research-center/pvd-9m-2026-reported-npat-mi-decreases-21-yoy-on-lower-drilling-gpm-higher-interest-expenses-below-forecast-earnings-flash-analyst-meeting-note