CTCP Tập đoàn Hòa Phát (HPG) công bố KQKD quý 1/2026:
- Doanh thu thuần: 52,9 nghìn tỷ đồng (+15% QoQ, +41% YoY; đạt 27% dự báo năm 2026 của chúng tôi).
- LNST sau lợi ích CĐTS: 9 nghìn tỷ đồng (+133% QoQ, +169% YoY; đạt 41% dự báo năm 2026 của chúng tôi).
- LNST sau lợi ích CĐTS cốt lõi: 5 nghìn tỷ đồng (+29% QoQ, +49% YoY; đạt 23% dự báo năm 2026 của chúng tôi).
- Sản lượng bán các sản phẩm thép quý 1/2026:
- Thép xây dựng: khoảng 1.431.000 tấn (+8% QoQ; +20% YoY; đạt 26% dự báo năm 2026 của chúng tôi).
- HRC: khoảng 1.471.000 tấn (-10% QoQ từ mức nền cao; +48% YoY; đạt 22% dự báo năm 2026 của chúng tôi).
- Ống thép: khoảng 241.000 tấn (+13% QoQ; +30% YoY; đạt 26% dự báo năm 2026 của chúng tôi).
- Tôn mạ: khoảng 106.000 tấn (+3% QoQ; +19% YoY; đạt 25% dự báo năm 2026 của chúng tôi).
Doanh thu quý 1 tăng trưởng mạnh, được dẫn dắt bởi sự cải thiện vượt kỳ vọng của mảng thép:
Doanh thu thuần quý 1/2026 tăng mạnh 15% QoQ và 41% YoY, nhờ doanh thu bán thép tăng 17% QoQ và 44% YoY. Kết quả tích cực của mảng thép đến từ sự tăng trưởng của cả sản lượng và giá bán trung bình (ASP).
Về sản lượng, doanh số thép xây dựng quý 1 đạt 1,43 triệu tấn (+8% QoQ, +20% YoY), cao hơn một chút so với kỳ vọng của chúng tôi và là mức theo quý cao nhất trong lịch sử. Việc sản lượng tăng so với mức cao kỷ lục của quý 4 là tín hiệu tích cực, vì quý 1 thường là mùa thấp điểm do kỳ nghỉ Tết. Chúng tôi cho rằng kết quả này đến từ sự phục hồi của thị trường bất động sản, việc đẩy mạnh chi tiêu cơ sở hạ tầng từ cả khu vực công và tư nhân, cũng như giá thép tăng trong tháng 3 do căng thẳng tại Trung Đông. Chúng tôi kỳ vọng kết quả quý 2 sẽ mạnh hơn quý 1 nhờ áp lực giải ngân vốn đầu tư công và đà tăng tiếp diễn của giá thép.
Đối với HRC, sản lượng bán hàng quý 1 đạt 1,47 triệu tấn (-10% QoQ từ mức nền cao; +48% YoY). Chúng tôi cho rằng mức tăng trưởng YoY mạnh là nhờ đóng góp từ Dung Quất 2 khi cả Giai đoạn 1 và 2 hiện đã đi vào vận hành, so với việc Giai đoạn 1 mới chỉ bắt đầu đóng góp từ tháng 3 năm ngoái. Chúng tôi kỳ vọng sản lượng quý 2 sẽ vượt quý 1, được hỗ trợ bởi việc áp dụng thuế quan mới đối với HRC khổ rộng nhập khẩu từ Trung Quốc (có hiệu lực từ giữa tháng 4/2026) và đà tăng của giá thép.
Về ASP, chúng tôi ước tính ASP của mảng thép tăng mạnh 18% QoQ và 9% YoY. Điều này đến từ nhu cầu xây dựng trong nước tăng mạnh xuyên suốt quý 1 giúp nâng giá thép xây dựng trong 2 tháng đầu năm, và áp lực lạm phát do chi phí đẩy từ căng thẳng Trung Đông giúp nâng ASP tất cả các mặt hàng trong tháng 3.
Biên lợi nhuận gộp quý 1 cải thiện QoQ và YoY – phù hợp kỳ vọng, nhưng con số tuyệt đối thấp hơn dự báo của chúng tôi:
Biên lợi nhuận gộp quý 1/2026 đạt 15,8%, mức tăng cải thiện so với cả QoQ (13,9%) và YoY (14,4%), chủ yếu nhờ các điều chỉnh trong mảng thép, đặc biệt là trong tháng 3/2026.
Trong quý, chúng tôi tin rằng biên lợi nhuận diễn biến theo hai giai đoạn. Trong 2 tháng đầu năm 2026, giá than cốc duy trì ở mức cao (do gián đoạn nguồn cung tại Úc) gây áp lực lên biên lợi nhuận; điều này được bù đắp một phần nhờ giá thép xây dựng cao khi nhu cầu tốt cho phép HPG chuyển giao chi phí sang khách hàng. Giá HRC trong 2 tháng đầu năm vẫn đi ngang so với mức trung bình quý 4/2025, dù cao hơn YoY nhờ các biện pháp bảo hộ từ AD20.
Tháng 3 ghi nhận một bước tiến: nhu cầu cao và lo ngại về nguồn cung tại Trung Đông đã đẩy giá thép xây dựng và HRC tăng mạnh, vượt xa tốc độ tăng chi phí đầu vào và kích hoạt hoạt động tái tích trữ hàng tồn kho. Tuy nhiên, lợi ích này ghi nhận không đồng đều — giá thép xây dựng được phản ánh ngay trong tháng, trong khi HRC (bán theo hình thức giao hàng kỳ hạn) sẽ được phản ánh từ quý 2. Những yếu tố này giúp nâng biên LNST sau lợi ích CĐTS mảng thép quý 1 lên 8,8% (so với 8,0% quý 1/2025 và 7,2% quý 4/2025), dù vẫn thấp hơn dự báo cả năm của chúng tôi là 10,8%.
Triển vọng quý 2/2026: Trong bối cảnh căng thẳng tại Trung Đông vẫn tiếp diễn, chúng tôi kỳ vọng biên lợi nhuận sẽ tiếp tục cải thiện QoQ. Giá thép vẫn còn dư địa để tăng do áp lực lạm phát chi phí đẩy từ khu vực Trung Đông; thực tế, chúng tôi đã quan sát thấy các thông báo tăng giá diễn ra thường xuyên trên toàn ngành trong suốt tháng 4 và đầu tháng 5. Biên lợi nhuận quý 2 cũng sẽ được hưởng lợi từ yếu tố thuận lợi về thời điểm ghi nhận hàng tồn kho — khi giá bán giao ngay điều chỉnh nhanh hơn so với giá vốn hàng tồn kho được mua từ mức thấp trước đó.
Triển vọng sau quý 2: Xu hướng lợi nhuận sẽ phụ thuộc vào diễn biến căng thẳng tại Trung Đông. Lợi thế từ thời điểm ghi nhận hàng tồn kho có thể chỉ mang tính chất tạm thời và có khả năng đảo chiều khi các gián đoạn địa chính trị hạ nhiệt (ví dụ: nếu tình hình tại eo biển Hormuz trở lại bình thường). Biên lợi nhuận có thể duy trì ở mức cao nếu căng thẳng kéo dài, nhưng có thể bị thu hẹp nếu tình hình xung đột hạ nhiệt.
Tuy nhiên, xét về mặt cấu trúc, chúng tôi vẫn lạc quan về khả năng cải thiện biên lợi nhuận trên cơ sở cả năm YoY. Việc bổ tăng nguồn cung nguyên liệu đầu vào, đặc biệt là quặng sắt từ dự án Simandou, cùng với việc Trung Quốc thắt chặt sản lượng và xuất khẩu thép là những yếu tố hỗ trợ dài hạn cho HPG trong nhiều năm tới. Nhìn chung, mặc dù biên lợi nhuận QoQ có thể biến động quanh các diễn biến tại Trung Đông, nhưng xu hướng tăng trưởng YoY vẫn được hỗ trợ bởi các động lực cấu trúc nêu trên.
Quý 1 ghi nhận lãi tài chính bất thường 4,9 nghìn tỷ đồng từ thoái vốn dự án bất động sản:
Thu nhập tài chính quý 1 đạt 5,9 nghìn tỷ đồng, trong đó 4,9 nghìn tỷ đồng là khoản lãi bất thường đến từ việc ghi nhận lãi từ thương vụ HPG thoái vốn toàn bộ cổ phần tại dự án khu đô thị Phố Nối – Hưng Yên.
Hệ quả từ thương vụ thoái vốn này là LNST sau lợi ích CĐTS báo cáo đạt 9 nghìn tỷ đồng (+133% QoQ, +169% YoY). Theo công bố của HPG, nếu loại trừ khoản lãi bất thường này, chúng tôi ước tính LNST sau lợi ích CĐTS cốt lõi đạt 5 nghìn tỷ đồng (+29% QoQ, +49% YoY; đạt 23% dự báo cả năm của chúng tôi), cao hơn một chút so với kỳ vọng và cho thấy tín hiệu khởi đầu năm rất tích cực.
Chi phí tài chính tăng QoQ và YoY:
Chi phí tài chính tăng 18% QoQ và 93% YoY. Mức tăng YoY là do (1) ngừng vốn hóa lãi vay cho DQSC2 sau khi dự án đi vào vận hành năm 2025, và (2) lãi suất vay bình quân cao hơn (5,8% trong quý 1/2026 so với 2,9% trong quý 1/2025). Trong khi đó, mức tăng QoQ chủ yếu do lãi suất vay bình quân tăng (5,8% so với 5,2% trong quý 4/2025). Số dư nợ vay bình quân giảm nhẹ (-3% QoQ) khi dự án DQSC2 bắt đầu tạo ra dòng tiền và HPG bước vào giai đoạn thanh toán nợ.
Kết luận chung:
KQKD quý 1 rất tích cực với sự cải thiện rõ rệt ở mảng thép. Về triển vọng quý 2, chúng tôi dự báo sản lượng sẽ cao hơn quý 1 nhờ áp lực giải ngân vốn đầu tư cơ sở hạ tầng, các quy định thuế quan mới đối với HRC khổ rộng nhập khẩu từ Trung Quốc và đà tăng giá thép. Về ASP, trong bối cảnh căng thẳng Trung Đông kéo dài, chúng tôi kỳ vọng kết quả quý 2 sẽ cao hơn quý trước, trong khi triển vọng các quý sau vẫn phụ thuộc vào diễn biến căng thẳng.
Nhìn chung, LNST sau lợi ích CĐTS cốt lõi quý 1 cao hơn một chút so với kỳ vọng của chúng tôi, chủ yếu nhờ lợi nhuận cốt lõi từ mảng bất động sản cao hơn dự kiến (đạt 29% dự báo cả năm của chúng tôi). Mảng thép đạt mức kỳ vọng khi doanh thu vượt dự báo bù đắp cho biên lợi nhuận thấp hơn đôi chút so với dự kiến; dù cần thêm đánh giá chi tiết.
Hình 1: KQKD quý 1/2026 của HPG
Tỷ đồng | Q1 | Q4 | Q1 | QoQ | YoY | Dự báo | KQ Q1 / |
Doanh thu thuần | 37.622 | 46.176 | 52.901 | 15% | 41% | 196.626 | 27% |
- Thép | 35.433 | 43.441 | 50.859 | 17% | 44% | 186.423 | 27% |
- BĐS | 202 | 879 | 278 | -68% | 38% | 1.683 | 17% |
- Nông nghiệp | 1.987 | 1.857 | 1.763 | -5% | -11% | 8.520 | 21% |
Lợi nhuận gộp | 5.424 | 6.397 | 8.365 | 31% | 54% | 33.533 | 25% |
Chi phí SG&A | -1.085 | -683 | -1.731 | 154% | 60% | -5.228 | 33% |
LN từ HĐKD | 4.339 | 5.714 | 6.634 | 16% | 53% | 28.305 | 23% |
Thu nhập tài chính | 438 | 437 | 5.938* | 1258% | 1256% | 2.794 | 213% |
Chi phí tài chính | -971 | -1.584 | -1.869 | 18% | 93% | -5.336 | 35% |
- trong đó, chi phí lãi vay | -627 | -1.237 | -1.333 | 8% | 113% | -4.237 | 31% |
Khác | 33 | 33 | 58 | 78% | 75% | 135 | 43% |
LNTT | 3.840 | 4.600 | 10.762 | 134% | 180% | 25.899 | 42% |
LNST | 3.350 | 3.888 | 9.056 | 133% | 170% | 22.014 | 41% |
LNST sau lợi ích CĐTS | 3.344 | 3.861 | 8.994 | 133% | 169% | 21.925 | 41% |
- Thép | 2.827 | 3.119 | 4.473 | 43% | 58% | 20.084 | 22% |
- BĐS | 110 | 439 | 4.176* | 851% | 3679% | 578 | 723% |
- Nông nghiệp | 407 | 303 | 345 | 14% | -15% | 1.263 | 27% |
LNST sau lợi ích CĐTS cốt lõi | 3.344 | 3.861 | 4.984 | 29% | 49% | 21.925 | 23% |
- Thép | 2.827 | 3.119 | 4.473 | 43% | 58% | 20.084 | 22% |
- BĐS | 110 | 439 | 166* | -62% | 50% | 578 | 29% |
- Nông nghiệp | 407 | 303 | 345 | 14% | -15% | 1.263 | 27% |
Biên LN gộp | 14,4% | 13,9% | 15,8% |
|
| 17,1% |
|
Chi phí SG&A/doanh thu | -2,9% | -1,5% | -3,3% |
|
| -2,7% |
|
Biên LN từ HĐKD | 11,5% | 12,4% | 12,5% |
|
| 14,4% |
|
Biên LNST sau lợi ích CĐTS | 8,9% | 8,4% | 17,0% |
|
| 11,2% |
|
- Thép | 8,0% | 7,2% | 8,8% |
|
| 10,8% |
|
- BĐS | 54,7% | 50,0% | 1500,0% |
|
| 34,3% |
|
- Nông nghiệp | 20,5% | 16,3% | 19,6% |
|
| 14,8% |
|
Biên LNST sau lợi ích CĐTS cốt lõi | 8,9% | 8,4% | 9,4% |
|
| 11,2% |
|
- Thép | 8,0% | 7,2% | 8,8% |
|
| 10,8% |
|
- BĐS | 54,7% | 50,0% | 59,5% |
|
| 34,3% |
|
- Nông nghiệp | 20,5% | 16,3% | 19,6% |
|
| 14,8% |
|
Nguồn: HPG, Vietcap. * Theo công bố của HPG, công ty đã ghi nhận một khoản lợi nhuận tài chính bất thường khoảng 4,9 nghìn tỷ đồng trong quý 1/2026 từ việc thoái vốn toàn bộ cổ phần tại dự án khu đô thị Phố Nối – Hưng Yên. Chúng tôi ước tính thương vụ này đã đóng góp khoảng 4 nghìn tỷ đồng vào lợi nhuận ròng của công ty.
Hình 2: Sản lượng bán thép quý 1/2026 của HPG
Nghìn tấn | T3 | T2 | T3 | YoY | MoM | Q1 | Q4 | Q1 | QoQ | YoY | Dự báo 2026 | KQ Q1 / Dự báo 2026 |
Thép xây dựng | 505 | 315 | 544 | 8% | 73% | 1.192 | 1.322 | 1.431 | 8% | 20% | 5.436 | 26% |
HRC | 496 | 468 | 565 | 14% | 21% | 994 | 1.642 | 1.471 | -10% | 48% | 6.720 | 22% |
Ống thép | 63 | 67 | 97 | 54% | 46% | 186 | 213 | 241 | 13% | 30% | 925 | 26% |
Tôn mạ | 29 | 25 | 38 | 33% | 54% | 89 | 103 | 106 | 3% | 19% | 423 | 25% |
Nguồn: VSA, Vietcap
Powered by Froala Editor